MSH

 KQKD 9T.2019 tăng trưởng tích cực so với sự sụt giảm chung của ngành, DT đạt 3.457 tỷ đồng (+15,8% yoy, đạt 80,2% KH năm) và LNTT đạt 437,5 tỷ đồng (+30,4% yoy, đạt 92% KH năm). Biên LNG tăng 0,9% so với cùng kỳ đạt 20,3%, đồng thời tiết giảm chi phí tài chính do tỷ giá ít biến động và nợ vay giảm.

 Xu hướng dịch chuyển đơn hàng từ CMT sang FOB khiến cho doanh thu và lợi nhuận vẫn tăng trưởng tốt trong 5 năm tiếp theo. Với mục tiêu mảng FOB chiếm tới trên 80%. Mảng chăn ga gối nệm có biên lợi nhuận gộp cao nhất lên tới 33% - 34% vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định mức thấp.

 Nhà máy may SH10 đi vào hoạt động trong năm 2020 sẽ là động lực tăng trưởng trong thời gian tới. Trong quý 2.2019, nhà máy may SH10 đã được khởi công tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Định với công suất 40 chuyền may nhằm tăng thêm 25% công suất.

 Tỷ lệ chi trả cổ tức cao lên tới 40% - 45% vốn điều lệ với nền tảng cơ cấu tài chính vững chắc và mức tăng trưởng HĐKD tốt là một trong những điểm sáng so với các công ty trong ngành.

 Chi phí nhân công có thể tăng liên tục hàng năm, nếu Chính phủ tăng lương cơ bản. Trong cơ cấu chi phí của MSH, chi phí nhân công luôn là một khoản thứ hai chỉ sau chi phí NVL.

 Năm 2020, chúng tôi dự phóng doanh thu và LNST đạt lần lượt 4.931 tỷ đồng (+ 5,4% yoy) và 472 tỷ đồng (+5,2% yoy), tương ứng với EPS 2020 là 9.478 đồng/cp. Chúng tôi đưa ra khuyến nghị MUA đối với MSH, giá mục tiêu 71.942 đồng/cp cho năm 2020.

Lịch sử và quá trình tăng vốn điều lệ

Năm 1988: Nhà máy May Sông Hồng được thành lập Năm 2001: Thương hiệu Chăn ga gối đêm Sông Hồng ra đời. Năm 2004: Công ty cổ phần hóa, trở thành Công ty Cổ phần May Sông Hồng, với vốn điều lệ 12 tỷ đồng. Năm 2007: Thành lập thương hiệu ở nước ngoài tên gọi Công ty TNHH May mặc Sông Hồng, tăng vốn điều lệ lên 18 tỷ đồng. Năm 2008: Trở thành công ty đại chúng. Phát triển thêm khu vực Sông Hồng IV tại huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 2018: Tăng vốn điều lệ lên 476,28 tỷ đồng. Ngày 28/11/2018: Chính thức giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE).

Năng lực sản xuất lớn

Hiện nay MSH đã phát triển được 6 nhà máy với 144 chuyền may rộng khắp các Huyện tại Nam Định để tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ tại chỗ. Với năng lực sản xuất hơn 6 triệu sản phẩm/tháng, MSH là một trong những công ty may mặc lớn nhất trong ngành. Hiện các nhà máy đã hoạt động gần kín công suất. Ngoài ra, thương hiệu Chăn ga gối đệm Sông Hồng cũng là một thương hiệu lâu đời và nổi tiếng tại thị trường miền Bắc, cạnh tranh trực tiếp với các thương hiệu nổi tiếng như EVERON hay Hanvico…

Cơ cấu doanh thu ngành may tập trung vào tăng trưởng đơn hàng FOB và chủ yếu là xuất khẩu

Trong mảng may thời trang, phương thức FOB và CMT (phụ lục các phương thức sản xuất may mặc) lần lượt chiếm 76% và 24% (năm 2018) mảng may mặc và đang hướng đến tăng tỷ trọng của FOB lên trên 80% tổng doanh thu công ty cho tới năm 2022 (năm 2018 chiếm 68,6% doanh thu). Hiện nay đơn hàng theo phương thức FOB cấp 1, theo đó MSH sẽ trực tiếp mua nguyên vật liệu theo chỉ định của khách hàng về cắt, may và bàn giao sản phẩm cho khách hàng. Mảng may thời trang xuất khẩu chủ yếu sang Châu Âu và Mỹ với lần lượt 60% và 30%. 10% còn lại là các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc… Mảng chăn ga gối đệm bán chủ yếu tại thị trường trong nước với trên 300 showroom khắp cả nước và đang thử nghiệm xuất khẩu sang Hàn Quốc và Nhật Bản với việc CGGĐ của Sông Hồng đã đạt được những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng để xuất khẩu sang những thị trường khó tính này.

Khách hàng lâu năm, cấu trúc tài chính tốt, ít rủi ro thanh toán.

Các khách hàng của MSH chủ yếu là các khách hàng lâu lăm, thiết kế, kinh doanh, phân phối độc quyền một số sản phẩm của các hãng thời trang nổi tiếng trong ngành thời trang.

Các khách hàng chính đặt hàng theo phương thức FOB là G-III Apparel Group, Haddad Brand, Columbia Sportwear Compay, NewYork & Company và Luen Thai. Các khách hàng còn lại là khách hàng đặt theo phương thức CMT.

Đây đơn vị thiết kế, kinh doanh các thương hiệu lớn như: Calvin Klein, Converse, Levi’s, Nike, Jordan, Hurley, DKNY, Tommy Hilfiger… Trong đó, GIII hay Columbia đều đang niêm yết trên sàn NASDAG với mã chứng khoán lần lượt là: GIII, COLM đều có tình hình kinh doanh tốt, ít sử dụng nợ vay trong mấy năm gần đây đảm bảo cho khả năng thanh toán đúng hạn các khoản phải trả thực hiện hợp đồng của MSH. Đặc biệt là Columbia khi hoạt động không cần tới sử dụng nợ vay, tiền và tương đương tiền, đầu tư ngắn hạn chiếm 30% tài sản. NewYork & Company cũng không hề sử dụng nợ vay, mặc dù quy mô nhỏ hơn GIII và Columbia.

Haddad Brand là một khách hàng mới năm 2017 với giá trị đơn hàng chỉ 7,9 triệu USD. Sau khi nhận thấy MSH hoàn toàn đáp ứng đầy đủ yêu cầu của mình về chất lượng nên năm 2018 đã tăng đơn đặt hàng với giá trị lên tới 29 triệu USD trở thành khách hàng lớn nhất (chiếm 20% doanh thu 2018) và dự kiến sẽ tăng trưởng tiếp tục các năm về sau

SAE-A Trading là đối tác đặt hàng CMT lớn nhất của MSH. Đây là một trong những công ty lớn nhất thế giới trong ngành dệt may đến từ Hàn Quốc với khả năng xuất khẩu khắp các nước trên thế giới cùng tiềm lực tài chính lành mạnh.

Đáng chú ý trong năm nay, MSH dự kiến sẽ tiến hành liên doanh với Luen Thai (đây là khách hàng hiện hữu của MSH thông qua công ty con là GJM (HK) Company), một tập đoàn may mặc nổi tiếng của Hồng Kông đã và đang hoạt động tốt tại Việt Nam và đang sản xuất các thương hiệu đồ lót nổi tiếng như Victoria’s Secret, Calvin Klein – sản phẩm có biên lợi nhuận cao hơn cả phương thức FOB hiện tại của MSH. Hiện công ty con của Luen Thai (sở hữu 100%) đang hoạt động tại Nam Định là Công ty cổ phần Dệt Nhuộm Sunrise Luen Thai, dự kiến sẽ là nhà cung cấp NVL cho liên doanh MSH và Luen Thai để tận dụng tốt các ưu đãi từ các hiệp định thương mại.

Nguồn NVL

Đối với FOB, công ty chủ yếu đang làm theo FOB cấp một. Nguồn NVL được khách hàng trực tiếp chỉ định và tỷ trọng chủ yếu vẫn đến từ các nước như Trung Quốc (khoảng 60%), Hàn Quốc (khoảng 20%), Mỹ (khoảng 10%), Hồng Kông, Đài Loan và trong nước (còn lại). Biến động giá cả đầu vào thường đã được tính toán kỹ trong đơn hàng nên rủi ro này không nhiều đối với phương thức FOB cấp 1 này.

Đối với hàng CMT, vải được khách hàng cung cấp hoàn toàn do đó biến động giá NVL không ảnh hưởng tới hoạt động của MSH.

Đối với mảng chăn ga gối nệm. Bông xơ được nhập trực tiếp từ Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan. Vải sẽ được ưu tiên mua trong nước từ TCT Việt Thắng, Dệt may Bảy và một số đối tác liên doanh đặt tại Việt Nam để đủ điều kiện để hưởng lợi từ các thỏa thuận thương mại như: Channel Fabrics INC (Mỹ - cung cấp vải cho hàng của GIII), Nantong Jieda (Trung Quốc – Cung cấp vải), Chung Woo Coproration (Hàn Quốc – Cung cấp vải), GIM (HK) Company (Luen Thai International) – Cung cấp vải, lót, bo len… Các nhà cung cấp bông xơ cho CGGĐ và áo phao đến từ Hàn Quốc như: Toray Chemical Korea INC, Winthetex Co.,Ltd, Hansung Fiber.

So sánh với một số công ty trong ngành

MSH là một trong những các công ty có kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may lớn của cả nước sánh ngang với các doanh nghiệp FDI. May Sông Hồng xếp thứ 6 trong top 10 các nhà xuất nhập khẩu dệt may của cả nước về kim ngạch xuất nhập khẩu trong năm 2018 theo số liệu của hiệp hội dệt may Việt Nam.

MSH có kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất thời trang cao cấp với trình độ công nhân cao và năng suất cao hơn các doanh nghiệp khác

Cơ cấu tài chính lành mạnh và ngày càng được cải thiện

Công ty có cơ cấu tài chính cải thiện rất tốt. Năm 2018, hệ số tổng nợ vay/vốn chủ sở hữu đã giảm mạnh còn 0,8 so với 1,2 năm 2017 do Nợ vay giảm (-15% yoy) kết hợp với lợi nhuận tăng tốt. Nợ của MSH chủ yếu là nợ vay ngắn hạn (chiết khấu L/C và vay ngắn hạn bằng ngoại tệ) nên rủi ro tài chính không cao. Công ty luôn cân đối mức chênh lệch nợ vay ngoại tệ thấp với doanh thu bằng ngoại tệ để giảm thiểu rủi ro khi VND mất giá so với các loại tệ khác. So với các công ty cùng ngành, tỷ lệ D/E của MSH chỉ cao hơn so với VGG cho thấy mức an toàn về tài chính của MSH khá cao.

Tỷ trọng nợ vay/tài sản chỉ ở mức 0,3 năm 2018 – mức khá hợp lý và thuộc nhóm thấp nhất trong ngành mang lại khả năng chống chọi với rủi ro tốt và còn nhiều dư địa sử dụng nợ vay và tiếp cận nguồn vốn giá rẻ khi công ty muốn mở rộng hoạt động sản xuất của mình để tận dụng cơ hội sắp tới.

Hệ số thanh toán hiện thời đạt 1,69 (mức cao nhất trong ngành – trung bình ngành đạt 1,21) thể hiện khả năng thanh khoản rất tốt kết hợp với hệ số thanh toán nhanh đạt mức 1,16 (cao nhất trong ngành, trung bình ngành đạt 0,64) cho thấy, chất lượng chỉ số thanh toán hiện thời rất cao. Khả năng thanh toán ngay đối với các khoản nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn và các khoản phải trả ngắn hạn) rất tốt trong đó khoản tiền và tương đương tiền khá lớn, chiếm tới 41% tổng tài sản ngắn hạn với 802 tỷ đồng tại thời điểm cuối Q3.2019.

Khả năng sinh lời cao nhất ngành cùng hiệu quả quản lý chi phí tốt

Khả năng sinh lời của MSH cũng luôn năm trong top đầu các công ty trong ngành. Đặc biệt MSH đã vươn lên dẫn đầu trong các công ty chúng tôi nghiên cứu với tỷ lệ ROIC và ROE lần lượt đạt 37% và 44% trong năm 2018 so với trung bình ngành lần lượt khoảng 24% và 28%, trong khi đó con số tương tự năm 2017 chỉ đạt 21% và 28%. Trong khi đó, trong ngành chỉ có GMC mới có hiệu quả sinh lời gần tương đương so với MSH với ROIC và ROE năm 2018 lần lượt đạt 37% và 41%.

Ngoài biên lợi nhuận gộp tăng trưởng tốt kết hợp với kiểm soát chi phí tốt khiến cho hiệu quả sinh lời gia tăng, MSH còn cho thấy vòng quay tổng tài sản cũng là một phần quan trọng. Năm 2018, vòng quay tổng tài sản của MSH đạt 1,75 đạt mức khá trong ngành chỉ sau HTG, GMC, VGG

Nhà máy SH9 đã đi vào hoạt động năm 2016, sau 2 năm đã vận hành ổn định, công nhân với tay nghề cao với năng suất tăng dần có thể đáp ứng được lượng đơn hàng tăng cao từ các khách hàng.

Tuy mảng chăn ga gối đệm chỉ chiếm khoảng 10% doanh thu, mảng này đem lại biên lợi nhuận lên tới 33%-34%% kết hợp với biên lợi nhuận mảng

Hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cũng luôn đứng đầu. Sức mạnh tài chính và vị thế của MSH trong ngành luôn rất tốt làm tiền đề cho khả năng cạnh tranh, tìm kiếm khách hàng mới cũng dễ hơn rất nhiều

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH

KQKD 9T.2019 tăng trưởng tích cực so với sự sụt giảm chung của ngành

Doanh thu 9T.2019 tăng trưởng tốt đạt 3.457 tỷ đồng (+15,8% yoy, đạt 80,4% KH năm). Biên lợi nhuận gộp tăng 9 điểm phần trăm so với cùng kỳ lên 20,3% do tiếp tục tăng tỷ trọng FOB trên tổng doanh thu lên khoảng 75,3% so với 68,6% năm 2018 khiến cho lợi nhuận gộp đạt 701,6 tỷ dồng (+21% yoy).

Nhờ tăng lượng tiền mặt, tiền gửi, giảm nợ vay và đồng VND khá ổn định trong năm 2019. LN hoạt động tài chính của công ty có cải thiện rõ rệt với 20 tỷ đồng so với chỉ 0,6 tỷ đồng cùng kỳ. Các chi phí bán hàng, chi phí quản lý tăng trưởng nhưng giữ tỷ trọng khá ổn định trên doanh thu. Theo đó, LNST 9 tháng đầu năm tăng trưởng rất mạnh mẽ, đạt 356,94 tỷ đồng (+30,7% yoy, đạt 92% KH năm).

Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý rằng Quý 3 thường là quý cao điểm của MSH nhưng năm nay tốc độ tăng trưởng doanh thu lẫn LNST của quý khá thấp cho thấy MSH cũng bị ảnh hưởng theo tình trạng chung của ngành dệt may trong năm nay. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn thấy lượng đơn hàng của MSH vẫn khá khả quan trong quý 4 và hoàn toàn có thể vượt kế hoạch kinh doanh do Đại hội đồng cổ đông đặt ra cho năm 2019.

Hiện nay số lượng đơn hàng đã xác nhận đã vượt kế hoạch năm với việc các khách hàng lớn đặt hàng theo phương thức FOB tăng trưởng tốt khiến cho doanh thu và lợi nhuận tăng trưởng cao. Năm 2019, các công nhân phải hoạt động gần hết công suất để đáp ứng lượng đặt hàng tăng trưởng tốt từ các đối tác. Hàng tồn kho tại thời điểm cuối quý 3.2019 tăng khoảng 9% so với cùng kỳ sau khi bàn giao lượng lớn hàng trong quý cao điểm nhất trong năm. Dự kiến quý 4 năm nay vẫn là quý có tăng trưởng tốt

Ngoài ra, việc chuyển đổi từ CMT sang FOB cũng khiến doanh thu tăng trưởng tốt. Theo đó, với đơn hàng FOB, vải sẽ được công ty mua về nhập kho, làm tăng thêm phần giá trị của vải so với phương thức CMT. Chúng tôi tính toán sự thay đổi khi chuyển đổi phương thức sản xuất theo thông tin dưới đây dưới đây:

Đối với đơn hàng thời trang cao cấp: để làm gia công 1 chiếc áo thành phẩm thì với 1 đồng nhân công cần tới 1-1,2 đồng Nguyên vật liệu, phụ liệu. CMT với biên lợi nhuận 10% và FOB biên lợi nhuận khoảng 21%.

=> 1 đồng doanh thu CMT cần 0,9 đồng nhân công, nguyên phụ liệu.

=> 1 đồng vải + 0,9 đồng nhân công, nguyên phụ liệu = giá vốn FOB = 1,9 đồng

=> Doanh thu FOB = 1,9/(100% - 21%) = 2,4 đồng.

Việc tiếp tục dịch chuyển sang làm đơn hàng FOB với biên lợi nhuận cao hơn là động lực tăng trưởng lớn trong ngắn hạn khi công ty đã đạt gần tối đa công suất. Việc xây thêm nhà máy SH10 trong năm 2019 là rất cần thiết để đáp ứng ngay lượng đơn hàng đang tăng lên.

Chúng tôi dự phóng doanh thu của mảng may FOB tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép trong giai đoạn 2019 – 2023 đạt 8,3% với biên lợi nhuận đạt 20,4%-20,8% và chiếm 86% trong tổng doanh thu. Mảng CMT giảm tỷ trọng còn 6,9% so với 21% năm 2018, mảng chăn ga gối nệm chiếm 7%.

Các khách hàng lớn như GIII, Haddad hay Columbia đang có xu hướng dịch chuyển dần đơn hàng ra khỏi Trung Quốc sang các nước như Việt Nam, Bangladesh, Jordan… không chỉ từ lo ngại về chiến tranh thương mại mà các công ty này đã có kế hoạch từ trước đó, chiến tranh thương mại sẽ càng đẩy nhanh tiến độ chuyển đơn hàng ra khỏi Trung Quốc. Hiện nay giá nhân công tại các nước như Việt Nam, Bangladesh, Jordan hay Campuchia rẻ hơn so với Trung Quốc, trình độ tay nghề đang được năng cao.

Cụ thể, với khách hàng G-III, nguồn hàng từ Trung Quốc đã giảm từ 72% năm 2017 còn 65,1% năm 2018 và năm 2019 dự kiến chỉ còn 61,5% từ Trung Quốc. Trong năm 2018 đơn hàng của MSH từ G-III đã tăng 58% yoy. Chúng tôi dự kiến năm 2019, giá trị đơn hàng tăng khoảng 37% đạt 580 tỷ đồng và chiếm 13% tổng doanh thu toàn công ty, tương ứng với tăng 0,36% thị phần sản xuất của GIII lên tới 1,27% tổng thị phần – rất nhỏ so với tổng nguồn cung hàng của GIII. Với khả năng tốt của MSH chúng tôi dự kiến tới năm 2023, doanh thu từ GIII có thể đạt 928 tỷ đồng, chiếm 16,8% doanh thu FOB của MSH.

Columbia đặt hàng từ 19 quốc gia, trong đó Trung Quốc và Việt Nam là hai nhà sản xuất lớn nhất chiếm 66% năm 2016 giảm còn 61% năm 2018. Tuy nhiên, lượng đặt hàng từ MSH vẫn có mức tăng trưởng tốt (+27% yoy năm 2018). Chúng tôi dự báo đơn hàng từ khách hàng này tiếp tục tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép 7,26% trong giai đoạn 2019 – 2023 với doanh thu năm 2019 đạt 859 tỷ đồng (+10% yoy), chiếm 22% tổng doanh thu mảng FOB.

Với khách hàng Haddad, sau một năm tìm hiểu đã tăng mạnh đặt hàng từ MSH với và trong thời gian tới dự kiến sẽ tiếp tục tăng lượng đặt hàng với MSH.

MSH mới ký kết được hợp đồng với Luen Thai – một công ty phân phối hàng may mặc khá lớn tại Hồng Kong. Dự kiến năm 2023 sẽ chiếm khoảng 11% doanh thu của MSH với giá trị hợp đồng có thể lên tới 40 triệu USD.

MSH đã giữ được những khách hàng tốt và được khách hàng và ký hợp đồng với khách hàng liên tục với chất lượng sản phẩm tốt cùng thời gian giao hàng nhanh và đáp ứng được công suất, sẽ khiến cho hoạt động của công ty ổn định hơn bất chấp việc không được hưởng lợi trực tiếp từ CPTPP hay EVFTA.

Đối với CPTPP và các hiệp định FTA là những động lực thúc đẩy ngành dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, khả năng MSH được hưởng lợi không nhiều vì quy định của CPTPP và EVFTA là sản phẩm phải có xuất sứ từ sợi trở hoặc từ vải trở đi. Ngành dệt may trong nước đang bị thắt nút cổ chai tại ngay khâu đầu tiên là sản xuất sợi và dệt vải nên khó có khả năng được hưởng lợi. Trong thời gian tới theo định hướng của MSH, công ty sẽ chủ động tìm nguồn cung NVL tại thị trường nội địa đối với các sản phẩm có thể chủ động sử dụng vải như Chăn ga gối đệm.

Nhà máy SH10 tại Nghĩa Hưng (MSH sở hữu 51%) sẽ là động lực tăng năng lực sản xuất lên thêm 25% là động lực tăng trưởng trong dài hạn, có thể đáp ứng lượng đơn hàng về FOB tăng lên nhanh chóng.

Dự kiến nhà máy sẽ xây dựng và đưa vào sản xuất trong vòng 1 năm tức năm 2020 sẽ hoàn thành với 40 chuyền may và 2500-3000 công nhân tại xã Nghĩa Phong, Huyện Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định, cách nhà máy SH9 tại Nghĩa Hưng khoảng 20km, với nguồn lao động dồi dào khi ít phải cạnh tranh với các công ty khác. Tuy nhiên, lượng công nhân có tay nghề cao sẽ không nhiều do trước đó chủ yếu làm nông/ngư nghiệp.

Năm đầu tiên dự kiến hoạt động 50% công suất do phải tốn thời gian đào tạo công nhân đạt mức tay nghề nhất định, vì sản phẩm MSH thường làm là sản phẩm thời trang có giá trị cao nên cần tay nghề cao hơn trung bình ngành. Năm tiếp theo sau khi công nhân đã lành nghề thì MSH có thể chạy tối đa công suất nếu đủ lượng đơn hàng đưa về.

Chúng tôi dự kiến năm 2021 nhà máy SH10 sẽ đạt điểm hòa vốn sớm. Điểm mấu chốt cho một nhà máy may đạt điểm hòa vốn không phải là thời gian công nhân có thể có đủ tay nghề mà là khả năng tuyển dụng công nhân để lấp đầy nhà máy. Vì theo như tìm hiểu của chúng tôi, nếu làm trong một chuyền may thì chỉ cần 1 ngày công nhân có thể hiểu việc và 1 tuần có thể quen việc, 1 tháng có thể đạt được trình độ tay nghề chuẩn. Trong lịch sử, nhà máy SH9 gần đó có thể vượt điểm hòa vốn sau 1 năm cũng là cơ sở của chúng tôi dự phóng

Các ưu đãi về thuế đối với các dự án mở rộng giúp MSH hưởng lợi trong thời gian nhất định. Theo đó, nhà máy SH10 dự kiến sẽ được miễn thuế TNDN trong năm 2020 và 2021 và được giảm 50% thuế 4 năm tiếp theo. Nhà máy SH9 hiện vẫn được hưởng ưu đãi giảm 50% thuế cho tới năm 2021.

Mảng CGGĐ đã đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của Châu Âu, Hàn Quốc hay Nhật Bản, và sẵn sàng có thể tăng lượng xuất khẩu. Trong 5 năm tới, thị trường xuất khẩu cũng là đích để MSH hướng đến cho sản phẩm này khi tại thị trường nội địa không còn nhiều dư địa tăng trưởng

Việc di dời 02 nhà máy trong nội thành về cụm Công nghiệp Mỹ Tân sẽ diễn ra theo hình thức cuốn chiếu nên không ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh chung của công ty. Hiện công ty đã chuẩn bị sẵn quỹ đất tại Cụm CN này. Quỹ đất nhà máy cũ sẽ được chuyển đổi mục đích sử dụng đất. 

Trên đây là cập nhật, đánh giá tình hình kết quả kinh doanh của MSH. Với tín hiệu Mua/Bán Quý vị nên theo dõi Trực tiếp tại www.topinvest.vn để có những quyết định Mua/Bán hiệu quả, chủ động với thị trường chung tại từng thời điểm cụ thể.

Bình luận về báo cáo

Xem thêm Báo cáo khác:

MWG: hạ dự báo lợi nhuận cho 2019 của MWG từ 4.000 tỷ đồng xuống còn 3.850 tỷ đồng

Hạ dự báo lợi nhuận cho 2019 của MWG từ 4.000 tỷ đồng xuống còn 3.850 tỷ đồng (+33,7% YoY - chủ yếu do việc đẩy mạnh mở rộng mảng BHX khiến cho điểm hòa vốn sẽ bị đẩy sang năm 2020); sau đó tiếp tục đạt 5.300 tỷ cho 2020 (+37,6% YoY), EPS đạt 11,970 đ/cp. Tại mức giá 112,0k, MWG đang được giao dịch tại PE forward 2020 ở mức 9,4 lần; và vẫn rẻ cho công ty bán lẻ đầu ngành tại Việt Nam.

HVN: Đội bay tăng trưởng nhanh hơn nhu cầu

Mặc dù đã có những sự thay đổi tích cực trong việc kiểm soát chi phí hoạt động và vận hành, cũng như cải thiện về cơ cấu tài chính; chúng tôi vẫn lo ngại về khả năng tăng trưởng trong dài hạn

MH3

MSN: doanh thu Quý IV của MSN thường sẽ vượt trội so với các Quý khác trong năm.

- Đặc thù ngành tiêu dùng cơ bản với sức cầu ổn định và tiềm năng phát triển lợi nhuận thường phụ thuộc vào mùa vụ, dịp lễ tết khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Chính vì vậy, doanh thu Quý IV của MSN thường sẽ vượt trội so với các Quý khác trong năm.

HIỆU QUẢ TÍN HIỆU
VN-Index 8.35 %
TopInvest 67.7 %
Năm 2019 Lãi ròng
Tháng 1 6.4 %
Tháng 2 11.3 %
Tháng 3 11.9 %
Tháng 4 8 %
Tháng 5 6.8 %
Tháng 6 3 %
Tháng 7 6 %
Tháng 8 8.7 %
Tháng 9 4 %
Tháng 10 0.9 %
Tháng 11 1.8 %
Tháng 12 -1 %